Thứ Hai, 28 tháng 7, 2014

Khảo sát địa chất công trình của xây dựng công trình ngầm

Từ trước đến nay ở Việt Nam một số công trình ngầm đã từng được xây dựng trong các lĩnh vực giao thông vận tải, thủy điện, khai thác khoáng sản, nhưng trong lĩnh vực xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị, xây dựng thiết kế nhà dân dụng và công nghiệp, kho bãi v.v...thì hầu như chưa có.

Chính vì vậy mà ở nước ta những kinh nghiệm về khảo sát, qui hoạch thiết kế, thi công cũng như giám sát thi công trong xây dựng công trình ngầm còn rất hạn chế. Theo đà phát triển đi lên của các hoạt động kinh tế – xã hội của đất nước, xây dựng công trình ngầm với nhiều mục đích công năng khác nhau chắc chắn sẽ là xu thế rõ ràng. Điều đó bắt buộc chúng ta phải quan tâm đến những vấn đề chuyên môn đặc thù liên quan đến xây dựng công trình ngầm, trong đó vấn đề khảo sát địa chất công trình với mục tiêu và nhiệm vụ của nó được đặt ra là thu thập và xác lập hồ sơ dữ liệu về các căn cứ địa chất công trình làm cơ sở cho quy hoạch, thiết kế, thi công và giám sát thi công xây dựng công trình ngầm.



I. Những vấn đề chuyên môn cần nhận thức rõ khi khảo sát địa chất công trình cho xây dựng công trình ngầm.

 
1. Qui hoạch cho vị trí xây dựng công trình ngầm
Ở Việt Nam tồn tại 2 dạng môi trường đất – đá khác nhau, môi trường đá cứng và đá mềm rời. Qui hoạch chọn vị trí xây dựng công trình ngầm ở 2 dạng môi trường đất – đá khác nhau có những vấn đề chuyên môn khác nhau
PGS-TS Đặng Hữu Diệp, Giám đốc Liên Hiệp Địa Chất Công Trình – Xây Dựng và Môi Trường.

ở khu vực thuộc môi trường đá, nếu gặp điều kiện cấu tạo địa chất tốt, ứng suất địa tĩnh không lớn, địa tầng gồm các lớp đá có bề dày lớn và đá có cường độ cao, trong trường hợp như vậy công trình ngầm có thể được thiết kế không có kết cấu khung vỏ bảo vệ giữ ổn định, hoặc nếu cần chỉ thiết kế kết cấu nhẹ. Nhưng nếu gặp trường hợp cấu tạo địa chất kém, có nhiều đứt gãy đi qua, nhiều hệ thống khe nứt và đới vỡ vụn, ứng suất địa tĩnh rất lớn, đá trầm tích với các lớp đá có bề dày nhỏ, đá bị phong hóa nghiêm trọng, chứa nhiều nước v.v..., trong trường hợp như vậy kết cấu khung vỏ chống đỡ của công trình ngầm sẽ chịu một áp lực đá vây quanh rất lớn, nếu kết cấu khung vỏ chống đỡ yếu sẽ có thể xảy ra các sự cố nghiêm trọng như sập lở, biến dạng mất ổn định hoàn toàn.

Tham khảo làm tủ bếp tại Hà Nội

Trong môi trường đá khô hoặc ít chứa nước, khi thiết kế khung vỏ chống đỡ thường thì đều thiết kế thoát nước bên trong lẫn bên ngoài khung vỏ chống đỡ, do đó cũng không xét đến áp lực thủy tĩnh do nước ngầm gây ra. Tuy nhiên khi chọn vị trí xây dựng công trình ngầm thường phải tránh những khối đá nhiều khe nứt để phòng tránh nước thấm vào công trình ngầm những khi mưa bão hoặc lũ lụt, bất thường. Đối với những trường hợp trong môi trường đá có nước ngầm phong phú, khi thiết kế công trình ngầm bắt buộc phải đặc biệt chú ý đến thiết kế chống thấm bên trong công trình, đồng thời phải xét đến tác dụng của áp lực nước từ bên ngoài, thường giá trị của nó bằng áp lực nước tại điểm có chiều sâu nằm dưới mặt đất của công trình nhân với một hệ số có giá trị bằng 1 hoặc nhỏ hơn 1 tùy mức độ nứt nẻ của đá và tình trạng thoát nước tốt hay kém.
Nếu thiết kế và thi công xây dựng công trình ngầm ở trong môi trường đất mềm rời thì có 2 vấn đề về địa chất công trình phải được đặc biệt chú ý, đó là cường độ chịu lực của đất và mức độ phong phú của nước ngầm. Bao giờ cũng phải chọn địa điểm xây dựng có các lớp đất dày và đất có khả năng chịu lực cao, không có nước ngầm hoặc nước ngầm không phong phú, tránh những vùng có đất bùn yếu, cát chảy, đất lún ướt, nhiều nước ngầm
2. Khảo sát địa chất công trình cho xây dựng công trình ngầm cần đặc biệt chú ý nghiên cứu địa mạo, tức nghiên cứu các đặc trưng hình thái của địa hình và quá trình động lực làm biến đổi địa hình. Bởi vì các đặc trưng địa mao sẽ chi phối việc quy hoạch chọn nơi đặt cửa vào và đường trục của công trình ngầm, cao độ của nó, tiết diện và chiều dài của công trình. Ở trong môi trường đá cửa vào thường được chọn nơi địa tầng có lớp đá dày và đá có cường độ cao, độ dốc địa hình cao, không nhỏ hơn 450, không được chọn những nơi có vách đá cao dễ sạt lở, có hiện tượng trượt, đá đổ, lũ đá. Những nơi ứng suất kiến tạo cao thì đường trục công trình phải chọn theo hướng song song với phương của ứng suất chính trên mặt phẳng nằm ngang. Đường trục công trình phải giao cắt nhau với đường phương của địa tầng hoặc đường phương của đứt gãy thành một góc lớn không nhỏ hơn 400, đồng thời bố trí dọc theo đường đỉnh của khối núi, không được bố trí cắt qua vùng trũng thấp hoặc các khe hẻm. Trường hợp bất khả kháng phải bố trí đường trục công trình đi qua những đơn nguyên địa mạo kém ổn định thì bắt buộc phải có biện pháp gia cố, thoát nước hoặc thiết kế kết cấu chống đỡ.
3. Điều kiện địa chất là một trong những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự ổn định của công trình ngầm. Qui hoạch chọn địa điểm, thiết kế và thi công công trình ngầm phải dựa trên cơ sở đánh giá định tính sự ổn định của công trình. Trong quá trình khảo sát địa chất công trình điều quan trọng chủ yếu là phải dự báo đánh giá sự ổn định của đá vây quanh công trình sau khi đã xây dựng xong, nhằm mục đích cung cấp dữ liệu cho thiết kế và thi công công trình. Có 2 yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự ổn định của công trình, yếu tố địa chất và yếu tố xây dựng gồm thiết kế và thi công. Đối với yếu tố địa chất chú ý đến đặc trưng kết cấu của thể đá nguyên trạng, cường độ chịu lực của thể đá nguyên trạng và hoạt động của nước ngầm.
Thể đá nguyên trạng được hiểu là một khối đá với kích thước bất kỳ còn đang hiện diện trong môi trường tự nhiên của nó. Đặc trưng kết cấu của thể đá nguyên trạng chỉ các bề mặt xuyên cắt trong nó, gồm các bề mặt phân cách địa tầng (các lớp đất-đá), bề mặt khe nứt, bề mặt đứt gãy. Các bề mặt xuyên cắt này làm cho thể đá nguyên trạng mất đi tính nguyên khối (liền khối) ở những mức độ khác nhau. Để đánh giá định lượng mức độ nguyên khối người ta đưa ra hệ số nguyên khối KV, và dựa vào đó đánh giá trạng thái nguyên khối của thể đá nguyên trạng.
Cường độ của thể đá nguyên trạng được đánh giá trên cơ sở dựa vào cường độ kháng nén ở trạng thái bảo hòa của đá kết hợp với đánh giá mức độ nguyên khối của nó.
Phân cấp mức độ cứng rắn của đá dựa theo giá trị cường độ kháng đơn trục ở trạng thái bảo hòa của đá fr.
fr (Mpa)
> 120
120 - 70
70 - 30
30 - 15
15 - 5
<>
Mức độ cứng rắn
Đá cứng
Đá mềm
Rất cứng
Cứng
Tương đối cứng
Tương đối mềm
Mềm
Rất mềm
Phân cấp mức độ nguyên khối của thể đá nguyên trạng dựa theo hệ số nguyên khối KV = (VP/V’P)
KV
> 0,75
0,75 – 0,55
0,55 – 0,35
0,35 – 0,15
<>
Mức độ nguyên khối
Nguyên khối
Tương đối nguyên khối
Tương đối vỡ vụn
Vỡ vụn
Rất vỡ vụn
Ghi chú: VP là tốc độ sóng đàn hồi dọc đo tại hiện trường của đá (m/s)
V’P là tốc độ sóng đàn hồi dọc của mẫu đá khô đo trong phòng thí nghiệm.
Tác động của nước ngầm đối với ổn định của công trình ngầm là gây ra áp lực thủy tĩnh tác dụng lên các kết cấu khung vỏ chống đỡ, làm giảm cường độ chịu lực của đất-đá vây quanh, gây ra biến dạng và mất ổn định cho đất-đá vây quanh; gây ra các hiện tượng dẫn đến sự uy hiếp đối với ổn định của công trình ngầm như hiện tượng phong hóa phát triển, hiện tượng ăn mòn hóa học tạo nên hang động trong đất-đá vây quanh, công trình ngầm trong nền đất có thể xuất hiện áp lực thủy động, từ đó gây ra các hiện tượng cát chảy xói ngầm, đồng thời nước ngầm thấm vào trong không gian của công trình ngầm, gây khó khăn cho thi công và những hoạt động sau này của công trình.
4. Trạng thái ứng suất ban đầu của môi trường đất-đá là một trong những yếu tố cần phải xét đến khi thiết kế và thi công xây dựng công trình ngầm. Trạng thái ứng suất ban đầu gồm có ứng suất địa tĩnh và ứng suất kiến tao, chúng hiện diện trong môi trường đất-đá tự nhiên trước khi công trình được khởi công.
Ứng suất địa tĩnh là do trọng lượng bản thân của đất-đá tạo nên, được đặc trưng bằng 3 giá trị ứng suất chính, một theo phương thẳng đứng sZ và hai theo phương nằm ngang sX sY, trong đó tính sZ, sX sY như sau
, trong đó gi và hi là dung trọng và bề dày của lớp đất-đá thứ i
sX = sY = K0sZ , trong đó K0 là hệ số áp lực hông
Ứng suất kiến tạo gây nên bởi lực kiến tạo phát sinh từ các vận động địa chất nội lực trong vỏ trái đất. Môi trường đất-đá sau khi đã hình thành, trong suốt quá trình tồn tại nó luôn trải qua nhiều kì vận động địa chất như vận động nâng hạ mặt đất, vận động tạo núi. Ưng suất kiến tạo theo phương thẳng đứng và phương nằm ngang đều có giá trị khác nhau, đồng thời trên mặt phẳng nằm ngang thường xuất hiện ứng suất chính lớn nhất và nhỏ nhất, giá trị của chúng không bằng nhau. Một lần xảy ra vận động địa chất sẽ tạo nên ứng suất kiến tạo hiện diện bên trong địa tầng, về sau chúng có thể biến đổi và giải thoát gây nên các hiện tượng địa chất trong công trình ngầm, tạo nên những biến dạng dị thường hoặc hiện tượng phụt mãnh đá, gây mất ổn định của công trình
5. Phương pháp và nội dung khảo sát địa chất công trình cho xây dựng công trình ngầm
Thiết kế và thi công xây dựng công trình ngầm có những vấn đề chuyên môn mang tính đặc thù riêng của nó, vì vậy khảo sát địa chất công trình cho xây dựng công trình ngầm cũng có những mục đích và yêu cầu riêng. Về phương pháp, thường áp dụng đầy đủ các phương pháp như đo vẽ thực địa, khoan đào, thăm dò địa vật lý, thí nghiệm trong phòng và hiện trường, kể cả phương pháp quan trắc hiện trường.
Đo vẽ thực địa nghiên cứu các bề mặt kết cấu, các tổ chức khe nứt, vị trí thế nằm các đứt gãy, kích thước và trạng thái gắn kết và mức độ chứa nước của đứt gãy, của khe nứt, nghiên cứu các đặc trưng địa mạo và các hiện tượng địa chất ngoại sinh, hình thái và sự ổn định của địa hình.
Phương pháp khoan đào kết hợp địa vật lý nghiên cứu đặc trưng địa tầng, sự phân bố của địa tầng và môi trường đất-đá, bề dày của tầng phủ và đới phong hóa, xác minh qui luật của các đứt gãy, các tổ hợp khe nứt, các lớp kẹp mềm yếu và các hang động.
Phương pháp thí nghiệm trong phòng nghiên cứu các tính chất cơ-lý của đất và đá, những tính chất đặc trưng riêng như hệ số hóa mềm của đá, tính chất ăn mòn tạo hang động, tính trương nở, tính lún ướt.
Thí nghiệm hiện trường nghiên cứu các đặc trưng cơ học của thể đá nguyên trạng và của các bề mặt kết cấu, nghiên cứu phạm vi phát triển của đới xáo động trong đá vây quanh và trạng thái ứng suất tự nhiên, các đặc trưng sóng đàn hồi của thể đá nguyên trạng, nghiên cứu địa nhiệt và khả năng chứa khí cháy và khí độc trong môi trường đất-đá.
Phương pháp quan trắc theo dõi diễn biến lâu dài của các hiện tượng biến dạng và ứng suất trong đất-đá vây quanh, áp lực đất-đá và hoạt động của nước ngầm, sự xuất hiện của khí cháy và khí độc.
II. Xây dựng công trình ngầm với đặc điểm địa chất công trình khu vực Thành Phố Hồ Chí Minh
Xét về đặc điểm địa chất kiến trúc, cấu tạo địa tầng, địa mạo và địa chất thủy văn, lãnh thổ khu vực TP. Hồ Chí Minh về đặc điểm địa chất công trình gồm 3 phân vùng khác nhau. Đặc điểm nổi bậc này sẽ là cơ sở để tham khảo trong qui hoạch thiết kế và xây dựng công trình ngầm tại đây.
Vùng A được cấu tạo bởi các loại đá cứng và đá nửa cứng, chúng có cường độ kháng nén khác nhau tùy mức độ phong hóa, biến đổi từ 50 kg/cm2 đến trên 1000 kg/cm2; địa hình núi thấp thuộc kiểu địa mạo xâm thực bào trụi, cao độ từ 40-80 mét, độ dốc 100-500, nước ngầm không phong phú với mực nước trên 10 mét dưới mặt đất, phổ biến các hiện tượng phong hóa và trượt sạt lở.
Vùng B phân bố trên diện tích rộng gồm các quận nội thành, quận Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp, Thủ Đức, quận 9; được cấu tạo bởi các lớp đất trầm tích cổ, phần lớn là các lớp đất có cường độ cao, đặc biệt hiện diện tầng đất sét cứng và nửa cứng với bề dày khá lớn, tuy nhiên nó nằm ở độ sâu biến đổi từ 20-50m: địa hình vùng B khá bằng phẳng, thuộc địa mạo đào mùn - tích tụ , thực chất là bề mặt bậc thềm cao của hệ thống sông Sài Gòn và sông Đồng Nai , nằm thấp hơn bề mặt bậc thềm tạo nên vùng A: độ cao địa hình 10m – 25m , độ dốc 0.5-4.0%: trong vùng B hiện diện tầng nước ngầm ở độ sâu 5-10m với lượng nước khá dồi dào và có nguồn bổ cấp khá thường xuyên .Tại đây có thể xảy ra các hiện tượng xói ngầm, lún ướt, cát chảy.
Vùng C được cấu tạo bởi các trầm tích trẻ, hiện đại nhiều nguồn gốc , đất yếu , cường độ chịu lực kém, tạo thành bề mặt bậc thềm thấp nhất của sông Sài Gòn - Đồng Nai và các chi lưu; địa hình không bằng phẳng , tuy nhin bị chia cắt mnh liệt bởi cc chi nhnh dịng chảy ; nước ngầm lộ ngay mặt đất ; thuộc địa tâng vùng C dày 10- 30m nằm phủ trực tiếp bên trên các lớp đất cấu tạo nên vùng B và A..
Ngoài những đặc điểm địa chất công trình nĩi trn , Thnh Phố Hồ Chí Minh đ được hình thnh cch nay đến trăm năm hơn và hiện nay là một thành phố đang trên đà phát triển có mật độ dân cư cao , nhiều khu dân cư và khu thương mại sầm uất với nhiều công trình dn dụng , cơng nghiệp , thương mại giải trí , nhiều công trình kiến trc quy mơ hiện đại mạng lưới hạ tầng kĩ thuật chằng chịt .
Những đặc điểm nêu trên bắt buộc phải được xét đến một cách nghiêm túc khi tiến hành khảo sát quy hoạch thiết kế thi công xây dựng công trình ngầm tại Thành Phố Hồ Chí Minh .Vùng B nêu trên là vùng có những đặc điểm thuận lợi .Trong vùng B hiện diện lớp sét cứng và nửa cứng có cường độ chịu lực cao và bề dày lớn. Điểm thuận lợi này sẽ có ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp thi công , thực thi biện pháp thi công , thực thi biện pháp an toàn , quyết định kinh phí cho dự án và quy trình vận hnh về sau .Tuy nhin trong vng B nu trn lại hiện diện tầng nước ngầm với lượng nước phong phú và nằm cách mặt đất từ 5-140met. Đây là điều bất lợi, sẽ ảnh hưởng đến sự ổn định của công trình v tổn phí ti chính cho cơng trình cũng tăng lên .
Vùng A nếu tuyến công trình ngầm đi qua sẽ gặp nhiều vấn đề địa chất đặc thù như cường độ của đá không đồng nhất, địa tầng sắp xếp không nghiêng dốc, đồng thời hướng đi của địa tầng sẽ ảnh hưởng đến quy hoạch chọn tuyến cho công trình; trong vùng A sẽ bắt gặp các đới khe nứt tập trung, các lớp kẹp đá yếu ,các đứt gãy lớn xuêyn cắt ảnh hưởng đến ổn định công trình; ngồi ra trong vùng A sẽ gặp những đới chứa nước cục bộ với lượng nước lớn bất ngờ vàcó áp lực cục bộ .
Vùng C là vùng đất yếu với bề dày lớp đất kém ổn định tương đối lớn, phân bố trên toàn bộ diện tích của bậc thềm thấp với mạng kênh rạch dày đặc, địa hình bị chia cắt nhiều ; nước ngầm trong vùng C với lượng nước không quá lớn , nhưng được cung cấp thường xuyên .Những đặc điểm này đều gây bất lợi cho việc quy hoạch chọn tuyến , thiết kế và thi công công trình ngầm .Vng C tiếp gip trực tiếp với sơng Si Gịn , nn tuyến cơng trình đi qua sẽ gặp những hiện tượng mất ổn định phức tạp , như công trình bị sập lở , nước ngập vào công trình , p lực thủy tĩnh tăng cao v.v…
III. Những vấn đề cần lưu ý:
Xy dựng cơng trình ngầm thường đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp và nghiêm trọng như ổn định của đất – đá vây quanh , các hiện tượng cơ học và địa chất dị thường , áp lực đất đá biến động , ứng suất địa tĩnh bất thường , tháo khô và chống thấm phức tạp , ảnh hưởng của khí cháy và khí độc .Vì vậy quy hoạch , thiết kế, thi cơng cơng trình ngầm địi hỏi phải chặt chẽ , chất lượng cao ; đi theo đó khảo sát địa chất công trình cũng phải địi hỏi đặc biệt , chủ trì đề án khảo sát phải giao trách nhiệm cho chuyên gia có đầy đủ hiểu biết về kĩ thuật khảo sát , về thí nghiệm cả trong phịng v hiện trường , thí nghiệm cả đất và đá , có kinh nghiệm trong đánh giá và dự báo những ảnh hưởng của các hiện tượng địa chất , dự báo những hiện tượng nguy hiểm có thể xảy ra , biết phối hợp với chuyên gia quy hoạch thiết kế đưa ra những ý kiến gip quy hoạch v thiết kế cơng trình đạt kết quả tốt nhất .Nhiệm vụ khảo sát địa chất công trình cho cơng trình ngầm nn giao cho những đơn vị có đầy đủ năng lực về thiết bị , về phương pháp và kinh nghiệm thực tế .Quan tâm đến kết quả khảo sát địa chất công trình l nhằm đảm bảo hiệu quả kinh tế - kĩ thuật trong xây dựng cơng trình ngầm .Những thất bại ở một số cơng trình xy dựng cĩ phần ngầm ở thnh phố hồ chí minh trong thời gian qua cho thấy những khiếm khuyết
trong khảo sát địa chất, như không đánh giá ảnh hưởng của nước ngầm và không đưa ra những khuyến cáo về giải pháp kỹ thuật giữ ổn định công trình.
Một điều đáng quan tâm nữa là sự kết hợp giữa chuyên gia qui hoạch thiết kế công trình với chuyên gia phụ trách nhiệm vụ khảo sát địa chất công trình. Đây là một nguyên tắc được đưa ra trong các tài liệu chuyên môn về xây dựng công trình nhằm đảm bảo cho phương án khảo sát đạt được hiệu quả cao, bảo đảm kết quả khảo sát thực hiện được mục dích làm cơ sở chắc chắn cho qui hoạch, thiết kế và thi công công trình. Hiện nay ở Việt Nam phổ biến tình trạng nhà đầu tư giao trọn gói khảo sát và thiết kế cho đơn vị thiết kế, từ đó đơn vị thiết kế tự đề ra đề cương khảo sát một cách tiết kiệm nhất nhưng không chú ý đến những yêu cầu kỹ thuật thực tế của công trình xây dựng đối với kết quả khảo sát, từ đó vừa không đảm bảo chắc chắn cho sự ổn định của công trình, vừa có thể gây ra lãng phí lớn trong thiết kế và thi công.
Ngoài khảo sát để phục vụ cho qui hoạch và thiết kế, còn phải chú ý đến khảo sát và thi công, vấn đề này đặc biệt quan trọng đối với xây dựng công trình ngầm. Môi trường địa chất và môi trường đất-đá thường rất không đồng nhất và không đẳng hướng, khi chịu tác động của yếu tố khách quan đối với nó thì nó sẽ biến đổi và thể hiện sự biến đổi đó thông qua các hiện tượng mất ổn định. Kết quả khảo sát bao giờ cũng dựa trên những dữ liệu hạn chế để đưa ra những đánh giá dự báo. Vì vậy mức độ chắc chắn của những dự báo đó là có hạn, cần phải được kiểm chứng bằng những thăm dò dự báo trước thi công. Vì vậy ngoài việc phải tiến hành khảo sát địa chất công trình để phục vụ thi công công trình là điều phải làm, đối với xây dựng công trình ngầm còn phải tiến hành khảo sát trước thi công nhằm kiểm chứng những đánh giá dự báo được nêu ra trong khảo sát ở giai đoạn trước, đồng thời còn dự báo những vấn đề có thể phải đối mặt sắp tới trong thi công.
Với điều kiện địa chất công trình như lãnh thổ của Thành phố Hồ Chí Minh, phần lớn diện tích đều được cấu tạo bởi các đất trầm tích cổ và trầm tích hiện đại, trong khảo sát và đánh giá địa chất công trình cho xây dựng công trình cần đặc biệt chú ý những vấn đề như sau:

1. Về mặt địa chất nên chọn cho công trình đi qua những nơi có nền đất tốt, có lớp đất cường độ cao và ổn định, không chứa nước, địa tầng nằm ngang và đơn giản. Như vậy sẽ đạt được mục đích công trình ổn định, chi phí tài chính cho xây dựng hợp lý, việc thi công cũng đơn giản.

2. Nội dung khảo sát chú ý lập được nhiều mặt cắt địa chất công trình cắt qua nhiều phân đoạn công trình nhằm phản ánh chi tiết cấu tạo đất-đá và các tính chất cơ-lý của chúng, điều kiện địa chất thủy văn; khoảng cách giữa các hố khoan khảo sát 100-200 mét, nhưng sẽ đan dày hơn nếu tuyến công trình đi qua sông, kênh rạch, đứt gãy nhằm làm rõ những nơi địa tầng kém ổn định và đề ra những giải pháp gia cố.

3. Công tác giám sát thi công phải đặc biệt chú ý đặc điểm công trình thi công xây dựng trong điều kiện đô thị, các công trình hiện hữu trên mặt đất sẽ chịu ảnh hưởng nghiêm trọng. Nếu thi công đào hở thì phải chú ý mái dốc sạt lở sẽ tác dụng đến các công trình hiện hữu nằm gần; nếu thi công phải hạ thấp mực nước ngầm sẽ gây ra hiện tượng lún không đều; nếu thi công đào ngầm có thể gây ra hiện tượng mặt đất sạt lún không đều, các công trình hiện hữu sẽ không an toàn, nếu tồn tại mạng lưới hạ tầng kỹ thuật đô thị thì việc thi công sẽ gặp nhiều trở ngại; nếu tuyến công trình cắt qua sông thì cần phải dựa vào đặc điểm địa hình địa mạo và cấu tạo địa chất cụ thể để chọn tuyến tránh nơi nước sâu, cấu tạo địa chất phức tạp, đặc biệt chú ý đến điều kiện địa chất thủy văn. Một trong những vấn đề cốt lõi trong xây dựng công trình ngầm là chống thấm, bởi vì khi cắt qua sông không thể tiến hành thoát nước, nước từ sông bổ cập vào nên lượng nước sẽ rất lớn. Ngoài ra trong khảo sát cần phải làm rõ địa hình dưới nước bằng các phương pháp khoan và địa vật lý.

Chủ Nhật, 27 tháng 7, 2014

Trắc địa là gì ?

Trắc địa hay còn gọi là trắc đạc, là một ngành khoa học về đo đạc và xử lý số liệu đo đạc địa hình và địa vật nằm trên bề mặt Trái Đất.

Wordnet (2011) thì trắc địa là một phân nhánh của địa chất học nghiên cứu hình dạngcủa Trái Đấtvà xác định chính xác vị trí địa lý của các điểm.

Webster (2011) thì trắc địa là một phân nhánh của toán học ứng dụng. Bằng việckhảo sátvàđo đạc, trắc địa xác định hình thể và diện tích của một vùng rộng lớn trên bề mặt Trái Đất; hoặc xác định hình dạng và kích thước của quả đất; hay khảo sát số liệu vềđộ congcủatrái đất;cũng như đo đạc các đường ranh giới hoặccácđườngbờ biển dài.

Wikipedia (2011) thì trắc địa hay còn gọi là trắc đạc, là một ngành khoa học về đo đạc và xử lý số liệu đo đạc địa hình và địa vật nằm trên bề mặt Trái Đất. Trắc địa là đo đạc vị trí tọa độ (kinh độ, vĩ độ, cao độ), hình dạng, kích thước, phương hướng của địa hình mặt đất và địa vật nằm trên mặt đất.

Nguyễn Quang Tác (1998) thì trắc địa là môn khoa học về trái đất. Nó nghiên cứu hình dạng, kích thước và bề mặt tự nhiên của Quả đất, nghiên cứu vị trí không gian và các yếu tố tự nhiên như địa hình, thủy văn, thực vật… cũng như những công trình nhân tạo như thành phố, đô thị, các khu công nghiệp và các công trình kinh tế quốc phòng khác.


Nhờ quá trình đo đạc trên mặt đất, qua xử lý số liệu, ta có thể lập được bản đồ, bình đồ, biểu diễn được thực địa, lặp được các mặt cắt… Như vậy, có thể nói, trắc địa là môn khoa học về các phương pháp, phương tiện đo đạc và xử lý số liệu nhằm xác định hình dạng, kích thước của các đối tượng đo phục vụ cho mục đích nghiên cứu khoa học, đáp ứng cho các ngành kinh tế quốc dân và quốc phòng.

Bùi Quang Tuyến và ctv (2005) thì trắc đạc là môn khoa học về Trái Đất có nhiệm vụ xác định hình dạng và kích thước của Quả Đất và thể hiện một phần bề mặt Trái Đất dưới dạng bản đồ, bình đồ mặt cắt…

Nguyễn Xuân Hoàn (2007) trắc địa là một khoa học nghiên cứu hình dạng, kích thước Trái Đất và biểu diễn bề mặt Trái Đất dưới dạng bình đồ hoặc bản đồ. Ngoài ra, trắc địa còn giải quyết hàng loạt các đề trong đo đạc các công trình: thủy điện, thủy lợi, xây dựng…

Theo tiếng Hy Lạp thì thuật ngữ “trắc địa” có nghĩa là sự “phân chia đất đai”. Với ý nghĩa đó, chứng tỏ trắc địa đã ra đời từ rất sớm. Sự phát triển của nền sản xuất xã hội đòi hỏi trắc địa ngày càng phải đề cập đến nhiều vấn đề, khái niệm “trắc địa” cũng vì thế có nghĩa rộng hơn.

Có thể hiểu “trắc địa” là môn khoa học về các phương pháp, phương tiện đo đạc và xử lý số liệu nhằm xác định hình dạng kích thước Trái Đất; thành lập thành lập bản đồ, bình đồ, mặt cắt địa hình phục vụ xây dựng các công trình kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu của các ngành kinh tế quốc dân và quốc phòng.

Nhiệm vụ chính của trắc địa là tiến hành đo đạc các yếu tố cần thiết như góc, cạnh, độ cao; tính toán xử lý số liệu và thể hiện chúng dưới dạng bình đồ, bản đồ, mặt cắt… Trắc địa tham gia giải quyết nhiều bài toán ứng dụng trong quá trình khảo sát, quy hoạch, thiết kế, xây dựng và sử dụng mọi công trình kinh tế, quân sự.

Khi thiết kế, quy hoạch và xây dựng công trình trước hết cần có các tư liệu về mặt bằng khu vực, đây là cơ sở không thể thiếu được đối với các nhà quy hoạch, kiến trúc và xây dựng. Sau đó, các công trình thiết kế trên bản vẽ sẽ được chuyển ra thực địa bằng những phương pháp và máy móc trắc địa.

Vì thế, các nhà quy hoạch, kiến trúc và xây dựng cũng cần được trang bị những kiến thức nhất định về bình đồ, bản đồ, nững hiểu biết về dụng cụ và phương pháp đo đạc cơ bản trong trắc địa để ứng dụng trong thiết kế, xây dựng và sử dụng công trình.

Để thực hiện nhiệm vụ của mình, trắc địa phải tiến hành đo đạc mặt đất. Công tác đo đạc thực chất quy về đo một số các yếu tố cơ bản như: góc, cạnh, chiều cao... Với mục đích đo đạc hiệu quả và chính xác, trắc địa đã nghiên cứu ứng dụng các phương pháp trong đo đạc.

Quá trình đo luôn tồn tại các sai số ảnh hưởng tới độ chính xác kết quả đo. Để nhận được các trị đo xác suất nhất và biểu diễn chúng dưới dạng bản đồ, bình đồ và mặt cắt địa hình thì cần phải xử lý số liệu đo. Kiến thức trắc địa cùng với toán học, xác suất thống kê, tin học là những công cụ quan trọng để thực hiện việc xử lý số liệu.

Phương tiện đo là một trong những điều kiện quan trọng để đo đạc chính xác và hiệu quả. Với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành khoa học như quang học, cơ khí chính xác, điện tử, tin học đã chế tạo ra các thiết bị đo hiện đại như toàn đạc điện tử, thủy chuẩn điện tử, máy định vị GPS. Máy móc, thiết bị đo đạc hiện đại cùng với công nghệ tiên tiến thực sự là cuộc cách mạng sâu rộng của ngành trắc địa, mở ra khả năng không chỉ nghiên cứu đo đạc vẽ bản đồ trên bề mặt Trái Đất, dưới lòng đại dương mà còn không gian ngoài Trái Đất.

Trong đời sống thực tiễn, trắc địa là một ngành điều tra cơ bản, cung cấp tài liệu ban đầu cho nhiều ngành khác nhau như: nông nghiệp, lâm nghiệp, xây dựng, thủy lợi…

Trắc địa là một ngành khoa học liên quan chặt chẽ với toán học, vật lí học, địa lý học, địa chất, địa mạo, thiên văn, viễn thám, tin học…

Toán học cung cấp cho trắc địa những phương pháp xây dựng các thuật toán để giải các bài toán trên mặt cầu và mặt quy chiếu toạ độ phẳng. Toán học cung cấp những công cụ để nghiên cứu xử lý các kết quả đo và đánh giá độ chính xác của các số liệu trắc địa thu được.

Vật lý giúp trắc địa giải quyết mô hình trọng trường trái đất, mô hình vật lý bầu khí quyển bao quanh Trái Đất. Vật lý cung cấp cho trắc địa những nguyên lý chế tạo các máy móc đo đạc quang học, đo đạc điện tử, các máy chụp ảnh, đo ảnh.

Khoa học địa chất, địa mạo giúp các nhà trắc địa hiểu rõ bản chất của đất đai, quy luật địa mạo, địa hình. Địa lý học nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên, kinh tế - xã hội, nguồn gốc của chúng những mối quan hệ tương quan và sự phân bố của chúng trên mặt đất. Đó chính là cơ sở để phản ánh đúng đắn các đối tượng và các hiện tượng trên bản đồ.

Sự phát triển của điện tử - tin học và máy tính kỹ thuật số đã đem lại khả năng tự động hoá cao cho trắc địa bản đồ. Các máy móc thiết bị hiện đại được sử dụng rộng rãi ngày nay như máy đo dài điện tử (DEM), máy toàn đạc điện tử, thiết bị định vị toàn cầu (GPS), thiết bị công nghệ đo ảnh - viễn thám, công nghệ thông tin địa lý, máy in số…

Máy tính và các phần mềm chuyên dụng dã giúp ngành rtrắc địa xử lý nhanh chóng và cính xác toàn bộ số liệu, thành lập và lưu trữ bản đồ dưới dạng số, tạo điều kiện thuận lợi để tích hợp và sử dụng hợp lý các thông tin.

Thứ Bảy, 26 tháng 7, 2014

Về việc thí nghiệm nén tĩnh cọc bê tông cốt thép

Câu hỏi của bạn Pham Thi Hong Hanh hỏi :

Cơ quan tôi đang chứng nhận đử điều kiện đảm bảo an toàn chịu lực, chứng nhận sự phù hợp về chất lượng công trình xây dựng cho công trình XYZ. Vâỵ cơ quan tôi có được phép thí nghiệm nén tĩnh cọc BTCT tại công trình XYZ trên nữa không?


Sau khi nghiên cứu, Trung tâm Thông tin có ý kiến như sau:

Theo thông tư số 16/2008/TT-BXD ngày 11/09/2008 của Bộ Xây dựng về hướng dẫn việc kiểm tra, chứng nhận đủ điều kiện đảm bảo an toàn chịu lực và chứng nhận sự phù hợp về chất lượng công trình xây dựng thì tổ chức kiểm tra được lựa chọn là tổ chức tư vấn có chức năng hành nghề một trong các lĩnh vực thiết kế xây dựng, giám sát thi công xây dựng hoặc kiểm định chất lượng công trình xây dựng phù hợp với loại công trình được chứng nhận, đáp ứng các yêu cầu sau:

a) Yêu cầu về điều kiện năng lực:

- Có đủ kỹ sư, cán bộ kỹ thuật theo quy định thuộc các chuyên ngành phù hợp với nội dung kiểm tra nêu tại Khoản 2 của Mục này, tương ứng với quy mô công trình được chứng nhận;

- Cá nhân chủ trì việc kiểm tra, xác nhận đủ điều kiện đảm bảo an toàn chịu lực phải có năng lực chủ trì thiết kế kết cấu công trình phù hợp với loại và cấp công trình được chứng nhận;

- Không có vi phạm trong hoạt động xây dựng trong 3 năm gần nhất.

b) Yêu cầu đảm bảo tính độc lập, khách quan trong việc chứng nhận đủ điều kiện an toàn chịu lực:

- Không tham gia khảo sát, thiết kế, thi công, cung ứng vật tư - thiết bị, quản lý dự án và giám sát thi công xây dựng cho chính công trình hoặc hạng mục công trình được chứng nhận;

- Độc lập về tổ chức và tài chính: không có quan hệ phụ thuộc về tổ chức với chủ đầu tư, với các nhà thầu khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, tư vấn giám sát thi công xây dựng và tư vấn quản lý dự án của chính công trình hoặc hạng mục công trình được chứng nhận; không có cổ phần hoặc vốn góp trên 50% của nhau đối với chủ đầu tư và không có cổ phần hoặc vốn góp trên 30% của nhau đối với các nhà thầu khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, tư vấn giám sát thi công xây dựng và tư vấn quản lý dự án.

Bất động sản Châu Á tiếp nhận 75 tỷ USD trong 5 năm tới từ nguồn nào?

Các quy định giới hạn các Cty bảo hiểm châu Á đầu tư vào bất động sản đang dần được nới lỏng,và điều này hỗ trợ gia tăng các giao dịch đầu tư vào bất động sản.

Đây là nhận định trong báo cáo mới nhất của bộ phận nghiên cứu thị trường của CBRE về “Sự nới lỏng và sự bùng nổ của các công ty bảo hiểm Châu Á trong lĩnh vực bất động sản”.

Các quy định về việc đầu tư của Cty bảo hiểm đã có lịch sử bị thắt chặt từ lâu đời ở khu vực Châu Á, vốn triển khai vào các tài sản bất động sản luôn bị hạn chế. Nhưng tình hình này đang thay đổi vì một số nước trong khu vực đã cho phép sự đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, đầu tư vào bất động sản nhiều hơn và quy trình phê chuẩn được đơn giản hơn.

Theo các nhà quản lý bảo hiểm trong 10 khu vực pháp lý châu Á, tổng tài sản bảo hiểm đạt mức 6,7 nghìn tỉ USD tại châu Á vào cuối năm 2013, cao hơn so với Mỹ chỉ đạt 5,8 nghìn tỉ USD và tại Anh là 3 nghìn tỉ USD.

Nhật bản là thị trường có tài sản bảo hiểm lớn nhất, nắm trong tay tổng số tài sản hơn 3,3 nghìn tỉ USD, trong khi đó phần lớn tải sản còn lại thuộc về thị trường bảo hiểm của Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan. Bốn nước trên kiểm soát 90% tài sản bảo hiểm ở Châu Á.

Các Cty bảo hiểm ở Châu Á đầu tư rất thấp vào ngành bất động sản vì bị bó buộc bởi các quy định nghiêm ngặt, đặc biệt đối với các tài sản ngoài nước. Phần lớn sự đầu tư đều dồn vào các tài sản lưu động và minh bạch như thị trường chứng khoáng, tiền mặt, thu nhập cố định và trái phiếu chính phủ.

Tuy nhiên, quy mô của ngành bảo hiểm châu Á đang phát triển một cách nhanh chóng, đã tăng 13% từ năm 2008 đến năm 2013. CBRE dự đoán rằng sự gia tăng tài sản bảo hiểm kết hợp với sự nới lỏng về đạo luật sẽ giúp các nhà bảo hiểm châu Á tăng nguồn tài sản đầu tư vào ngành bất động sản từ 130 tỷ USD trong năm 2013 lên 205 tỉ USD vào năm 2018 , trong đó có 75 tỉ USD sẽ được đầu tư vào dòng chảy bất động sản, bao gồm cả đầu tư trực tiếp và gián tiếp.

So với các thị trường lớn, có một sự thiếu hụt về số tài sản có thể đầu tư được ở châu Á. Điều này song song cùng với việc nới lỏng các quy định sẽ cho thấy nhiều công Cty bảo hiểm châu Á đang đầu tư vào các khu vực khác. Chỉ tính riêng năm 2013 các thương vụ mua bán trong ngành bất động sản của các Cty bảo hiểm châu Á ở các thị trường ngoài châu Á Thái Bình Dương đã lên đến 2,4 tỉ USD .

"CBRE dự kiến sẽ có sự gia tăng trong việc triển khai vốn cho bất động sản của Cty bảo hiểm châu Á sẽ tăng trưởng , song song với tổng quy mô tài sản của ngành trong năm năm tới. Nhìn về lâu dài,sự nới lỏng cho các Cty bảo hiểm châu Á sẽ đẩy nhanh tiến độ đầu tư bất động sản toàn cầu của họ", Ada Choi - Giám đốc cấp cao về nghiên cứu của CBRE cho hay.

"Chúng tôi hy vọng rằng việc nới lỏng đầu tư ở nước ngoài sẽ được thực hiện điều chỉnh để tăng sự tự tin về giám sát đầu tư, như vậy các công ty bảo hiểm mới có nhiều kinh nghiệm hơn về đầu tư trên toàn cầu", bà Choi nói.

Một số loại thép được sử dụng chủ yếu của ngành xây dựng

Thép được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực xây dựng, phục vụ cho các công trình nhà ở, văn phòng, nhà máy, xí nghiệp, cầu đường, thủy điện... Loại vật liệu này có khả năng chịu lực lớn, độ tin cậy cao và dễ dàng lắp đặt. Trên thị trường có các loại thép xây dựng phổ biến như thép cuộn, thép ống, thép thanh và thép hình.

Thép cuộn



Thép dạng dây, cuộn tròn, bề mặt trơn nhẵn hoặc có gân với đường kính thông thường là: Ø6mm, Ø8mm, Ø10mm, Ø12mm, Ø14mm. Loại thép xây dựng này có trọng lượng khoảng 200-459kg/cuộn, trường hợp đặc biệt thì nhà sản xuất có thể cung cấp trọng lượng 1/300kg/cuộn.

Thép cuộn phải đảm bảo yêu cầu về giới hạn chảy, độ bền tức thời, độ dãn dài và được xác định bằng phương pháp thử kéo, thử uốn ở trạng thái nguội. Thép cuộn dùng để gia công kéo dây, xây dựng gia công, xây dựng nhà ở, cầu đường, hầm…

Thép ống xây dựng



Các công trình xây dựng sử dụng các loại thép ống như thép ống tròn, thép ống vuông và thép ống chữ nhật, ngoài ra còn có thép ống hình oval. Trong đó, thép ống dùng cho công nghiệp rất đa dạng như thép ống hàn xoắn, thép ống mạ kẽm, thép ống hàn cao tầng, thép ống hàn thẳng, thép ống đúc carbon… Ống thép có cấu trúc rỗng, thành mỏng, trọng lượng nhẹ với độ cứng vững, độ bền cao và có thể được sơn, xi, mạ để tăng thêm độ bền.

Thép ống được sử dụng cho các công trình xây dựng như nhà thép tiền chế, giàn giáo, giàn giáo chịu lực, hệ thống cọc siêu âm trong kết cấu nền móng, trụ viễn thông, đèn chiếu sáng đô thị, trong các nhà máy cơ khí.

Tham khảo làm tủ bếp gỗ tại Hà Nội

Thép thanh


Thép thanh hay còn gọi là thép cây, được sử dụng cho các công trình xây dựng công nghiệp và dân dụng đòi hỏi về độ dẻo dai, chịu uốn và độ dãn dài cao. Loại thép xây dựng này có 2 loại gồm thép thanh tròn trơn và thép thanh vằn.

Thép thanh vằn còn gọi là thép cốt bê tông, mặt ngoài có gân với các đường kính phổ biến Ø10, Ø12, Ø14, Ø16, Ø18, Ø20, Ø22, Ø25, Ø28, Ø32. Thép thanh tròn trơn có bề ngoài nhẵn trơn, chiều dài thông thường là 12m/cây với đường kính thông dụng: Ø14, Ø16, Ø18, Ø20, Ø22, Ø25.

Thép hình



Loại thép xây dựng này đang được ứng dụng phổ biến tại Việt Nam với các dạng cơ bản như thép hình chữ U, I, V, L, H, C, Z. Thép hình dùng cho xây dựng nhà thép tiền chế, dầm cầu trục, bàn cân, thùng xe, các công trình xây dựng, chế tạo máy, cơ khí, đóng tàu, làm khung cho nhà xưởng…

Thứ Sáu, 25 tháng 7, 2014

Dịch vụ khoan khảo sát địa chất công trình

Với đội ngũ kỹ sư khoan khảo sát địa chất kinh nghiệm và công nhân tay nghề cao, Thiên Phúc Việt Nam  chắc chắn sẽ mang đến cho khách hàng kết quả khảo sát có độ chính xác tin cậy nhất. Bên cạnh đó, với cơ sở dữ liệu địa chất dồi dào, Thiên Phúc Việt Nam còn là nhà tư vấn về điều kiện địa chất cho các đối tác và chủ đầu tư có nhu cầu.

Công tác tư vấn, khảo sát địa kỹ thuật trước khi xây dựng là một bước rất quan trọng để có một công trình bền vững theo thời gian?
Hàng loạt công trình nhà cao tầng đã và đang được xây dựng trên địa bàn TPHCM, nhưng việc các chủ đầu tư lơ là, thậm chí coi thường việc khảo sát địa chất đã dẫn đến những sự cố đáng tiếc, gây thiệt hại hàng trăm tỉ đồng. Đây là sự cảnh báo cần thiết cho những chủ đầu tư có tâm lý coi thường… “thổ địa”!

1.Khoan khảo sát địa chất công trình là gì?
Là công tác nghiên cứu, đánh giá điều kiện địa chất công trình tại địa điểm xây dựng nhằm xác định cấu trúc nền đất, tính chất cơ lý của các lớp đất nền, điều kiện nước dưới đất và các tai biến địa chất phục vụ cho công tác quy hoạch, thiết kế và xử lý nền móng…. Các dạng công tác chính trong khảo sát địa chất công trình bao gồm: khoan địa chất, đào, xuyên tĩnh, xuyên động, địa vật lý, nén tĩnh, nén ngang, cắt cánh….

2. Tại sao phải khoan địa chất?
Khảo sát địa chất công trình cung cấp các thông tin nhằm:
- Cơ sở để thiết kế, lựa chọn giải pháp móng cho công trình một cách hợp lý và tiết kiệm.
- Đề xuất biện pháp thi công hữu hiệu nhất, dự đoán được những khó khăn, trở ngại có thể nảy sinh trong thời gian xây dựng.
- Xác định các biến đổi của môi trường địa chất do hoạt động kinh tế – công trình của con người, cũng như ảnh hưởng của các biến đổi đó đối với bản thân công trình và công trình lân cận.

3. Khảo sát địa chất công trình khi nào?
Công tác khảo sát địa chất công trình thường được tiến hành trước khi thiết kế nền móng công trình. Khảo sát địa chất công trình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi thiết kế xây dựng công trình ở những nơi có điều kiện địa chất phức tạp, thiết kế xây dựng nhà cao tầng, công trình ngầm…
4. Khảo sát địa chất công trình ở đâu?
Khảo sát địa chất được thực hiện trên khoảnh đất dự kiến xây dựng công trình, tại nơi bố trí các công trình quan trọng, nơi đặt móng nhà, đài nước…

* Tại sao phải khảo sát địa chất, trong khi chúng tôi ép cọc và xác định được tải trọng trên đồng hồ đo tải?
- Đồng hồ đo tải chỉ cho tải trọng tức thời khi đang ép cọc (tải trọng giả). Theo thời gian đất ổn định lại, tải trọng thực của cọc sẽ thay đổi rất nhiều. Trong thực tế nhiều công trình, khi ép cọc dựa vào đồng hồ tải trọng thì đạt yêu cầu thiết kế, nhưng theo thời gian công trình vẫn bị nghiêng và lún nghiêm trọng. Đấy cũng là lý do tại sao các công trình lớn đều phải thử tải trọng của cọc theo thời gian để xác định lại tải trọng thực tế của cọc.
- Ngược lại, nếu ép cọc quá dư tải hoặc làm theo kinh nghiệm đã có từ công trình khác, vô tình gây lãng phí rất lớn chi phí phần móng không cần thiết. Đối với phần móng, nếu thiếu tải thì ta biết (công trình gặp sự cố sụp, nghiêng, lún…), còn nếu dư tải và gây lãnh phí thì ta không thể biết nếu không có thiết kế chuẩn theo điều kiện địa chất chính xác của công trình.
- Ngoài ra nhiều khu vực ép cọc không đạt được độ dài cần thiết do gặp tầng đất sét cứng. Và nhiều đầu cọc phải cắt bỏ phần dư gây lãng phí lớn về tiền bạc và thời gian, trong khi độ an toàn về nền móng vẫn không được đảm bảo.
 
5. Ưu đểm của việc khảo sát địa chất :
- Tính toán trước sức chịu tải của cọc trên đất nền theo thời gian, tránh rủi ro tải trọng giả.
- Xác định chính xác độ dài cọc cần đúc và điều kiện ép cọc hợp lý.
- Tránh lãng phí chi phí phần nền móng dư thừa do thiết kế quá dư tải trọng cần thiết. 
 
6. Các công việc khảo sát địa chất công trình?
- Khoan địa chất lấy mẫu đất nguyên dạng tại công trình, bảo quản và vận chuyển mẫu về phòng thí nghiệm. Trung bình 02 mét lấy 01 mẫu đất.
- Kết hợp thí nghiệm SPT tại hố khoan, trung bình 02 mét làm 01 thí nghiệm.
- Thí nghiệm 09 chỉ tiêu cơ lý trong phòng thí nghiệm cho mẫu đất nguyên dạng.
- Xác định độ sâu mực nước ngầm.
- Lập báo cáo khảo sát địa chất.

7. Quy trình khảo sát địa chất công trình?
- Đơn vị thiết kế hoặc chủ đầu tư cung cấp các thông tin về diện tích, quy mô công trình cho Thiên Phúc Việt Nam.
- Thiên Phúc Việt Nam cùng đơn vị thiết kế hoặc chủ đầu tư xác định khối lượng, vị trí và chiều sâu thăm dò.
- Tiến hành ký kết hợp đồng, tạm ứng và thống nhất ngày khởi công.
- Triển khai các công việc khảo sát địa chất.
- Bàn giao báo cáo khảo sát địa chất, chứng chỉ và hồ sơ liên quan.
- Thanh lý hợp đồng.
8. Thời gian và sản phẩm thực hiện?
- Thời gian dự kiến hoàn thành công tác khảo sát từ 06 đến 12 ngày hoặc dài hơn tuỳ thuộc khối lượng khảo sát và điều kiện thi công.
- Sản phẩm cuối cùng là Báo cáo khảo sát địa chất công trình.

5 kiểu nhà nhỏ và giải pháp thiết kế

Nhà nhỏ có thể trở nên hoàn toàn đẹp và cuốn hút. Tuy nhiên, thiết kế nhà nhỏ để đạt được tiêu chí đó hoàn toàn không đơn giản. Dưới đây là 5 kiểu nhà nhỏ điển hình và giải pháp thiết kế. Mong rằng bạn tìm được giải pháp nhà nhỏ phù hợp với mình trong bài viết này. 

1. Nhà nhỏ hẹp: 


Với thể loại nhà này, bạn nên sử dụng những đường trang trí sọc ngang, to bản để làm rộng khộng gian. 

Mẫu trang trí sọc ngang có thể áp dụng cho cả tường và sàn. Nếu nhà nhỏ của bạn vừa thấp vừa hẹp thì bạn nên dùng những mẫu trang trí có sọc nhỏ thẳng đứng. 


Sử dụng gương là một các rất hiệu quả để tạo hiệu ứng rộng hơn cho ngôi nhà nhỏ hẹp. Tuy nhiên, trong quan niệm về tâm linh thì không phải lúc nào và chổ nào cũng có thể đặt gương. Nên bạn hết sức cẩn thận với giải pháp này để tránh các kiêng kỵ trong Phong thủy. 

2. Nhà nhỏ thiếu không gian lưu trữ: 


Bạn có nhiều nơi để lưu trữ đồ dùng hơn bạn nghĩ. Chỉ có điều là bạn chưa nhìn ra. Giống như trong hình trên, cánh cửa tủ lại trở thành nơi cất giữ những dụng cụ bếp tuyệt vời. Không chỉ tận dụng được không gian mà còn thuận tiện hơn trong việc sử dụng và cất giữ. 
Hiện đại hơn, bạn có thể kết hợp tính năng lưu trữ vào những vật dụng nội thất của mình. Cùng một diện tích nhưng đến hai công năng sử dụng. 

3. Nhà nhỏ không đủ phòng: 

Nhìn vào hình trên bạn nghĩ đó là gì - một phòng làm việc? Không! Chính xác hơn là phòng làm việc chứa trong một chiếc tủ áo! Nếu sắp xếp một cách hợp lý thì 1 m2 cũng có thể trở thành một phòng công năng. 

Đừng quá câu nệ! Bạn cần thoáng hơn trong suy nghĩ để nhìn nhận ngôi nhà nhỏ của mình một cách trọn vẹn hơn. Không nhất thiết phải là phòng ăn, một chiếc bàn gỗ đúng điệu tựa vào sofa cũng có thể trở thành không gian ăn uống, sinh hoạt vô cùng thoải mái cho các thành viên trong gia đình. Hãy nhìn phòng ốc dưới gốc độ công năng sử dụng. Như vậy bạn sẽ thấy rằng ngôi nhà nhỏ của mình không thua gì những nhà có diện tích lớn hơn. Ngược lại, ngôi nhà nhỏ lại hơn những ngôi nhà khác ở sự sắp xếp, tư duy, sáng tạo của chủ nhà để tối đa hóa không gian sử dụng vốn dĩ khiêm tốn của mình. 

4) Quá chật chội: 

Lúc này đồ nội thất sẽ phát huy tác dụng của chúng. Bạn nên chọn những nội thất có độ "rỗng" để không hạn chế tầm mắt. Điều này có công dụng hết sức tuyệt vời. Thay vì sử dụng một kệ sách đóng kín lưng, bạn hãy để lưng mở và cảm nhận sự khác biệt. 
Tủ âm tường cũng là một "vũ khí" hết sức lợi hại để làm giảm cảm giác chật chội trong nhà. 


Bí quyết là sử dụng những tông màu sáng để không gian sáng sửa hơn. Nếu tiếp giáp nhà bạn không có nhà liền kề, bạn có thể sử dụng không gian  mở để làm cửa sổ hoặc ô lấy sáng làm tăng ánh sáng tự nhiên vào phòng hoặc/và nhà nhỏ của mình. Đối diện cửa sổ bạn có thể đặt gương để "mở rộng" thêm không gian. Nhưng một lần nữa nếu bạn quan tâm có thể tham khảo thêm các vấn đề về phong thủy.
Sử dụng thêm đèn trang trí để tăng độ sáng cần thiết và tăng tính thẩm mỹ cho không gian nhỏ.